Việc sử dụng than nhập khẩu để sản xuất xi măng

Than là một loại nhiên liệu không thể thiếu trong nghành công nghiệp sản xuất xi măng. Tuy nhiên, trong điều kiện thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nguồng nhiên liệu này đang ngày càng cạn kiệt, do vậy, sử dụng nguồn nguyên liệu này như thế nào nhằm đảm bảo phát triển bền vũng trong nghành công nghệp xi măng, đó là yêu cầu đặt ra đối với các DN

Theo số liệu khảo sát thực tế 02 mỏ tham tại phía Nam đảo Kalimantan – Indonesia, cho thấy một số vấn đề sau:

  • Than tại Indonesia chủ yếu là than bitum với hàm lượng chất bốc cao (dao động từ 39 – 42%) và có nhiệt trị trung bình (dao động từ 5.400 – 6.500 kcal/kg) được xuất khẩu chủ yếu cho các nhà máy nhiệt điện. Than tương đối mềm và có màu nâu đặc thù.

Các chỉ tiêu chính được mô tả trong bảng sau:

+ Độ ẩm: Độ ẩm than sau khai thác tại thời điểm khảo sát là rất cao, đặc biệt là các lô than có nhiệt trị thấp (khoảng 5.400 – 6.000 kcal/kg) khi bốc rót xuống phương tiện vận tải gây bụi nhiều nên phải phun nước dập bụi dẫn tới độ ẩm toàn phần có thể lên tới trên 15%. Đây là yếu tố rất bất lợi khi vận chuyển với cự ly xa.

+ Chất bốc: Thành phần chất bốc của than đều rất cao, tuy nhiên thành phần lưu huỳnh chỉ dao động trong khoảng dưới 1%. Qua khảo sát, than sau khai thác khi tồn trữ ngoài trời sẽ bị giảm chất lượng. Đối với các đống than tồn trữ trên 1 tháng, lớp than phía trên tiếp xúc với không khí và nhiệt độ cao đã bị bốc hơi, trở nên rất mềm và xốp, chiều dày của lớp than giảm chất lượng này có thể lên tới 20cm. Điều đó cho thấy tốc độ giảm chất lượng của than chất bốc cao là đáng lưu tâm trong trường hợp vận chuyển đi xa, phải qua nhiều lần trung chuyển, tồn trữ. Đặc biệt hơn, đối với các đống than tồn trữ lâu hơn đã xảy ra hiện tượng tự bắt cháy có thể Nhìn thấy bằng mắt thường. Khả năng tự cháy của than là cao. Tuy nhiên, qua đánh giá sơ bộ, mặc dù than tại khu vực khảo sát nói trên có khả năng tự cháy nhưng do thành phần lưu huỳnh thấp hơn than Na Dương Việt Nam nên khả năng tự cháy không mãnh liệt bằng và có thể kiểm soát được bằng việc lưu chuyển nhanh và hạn chế tiếp xúc với không khí.

+ Khả năng nghiền: Qua đánh giá ngoại quan, khả năng nghiền của than tại 2 mỏ khảo sát là tương đối mềm hơn so với than antraxit Việt Nam. Than có nhiệt trị càng thấp thì khả năng nghiền càng dễ. Điều này cũng tương đối phù hợp với số liệu do phía Indonesia cung cấp.

+ Khả năng phát sinh bụi: Các lô than có nhiệt trị thấp thường bao gồm nhiều thành phần hạt mịn nên khả năng phát sinh bụi khi bốc rót rất cao. Thực tế các điểm xuất than đều phải phun nước bổ sung để hạn chế bụi.

III. Kết luận:

Trong điều kiện nguồn tài nguyên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng ngày càng cạn kiệt, việc sử dụng nhiên liệu có phẩm cấp thấp trong sản xuất thay thế cho nguồn nhiên liệu phẩm cấp cao mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Cụ thể, mỏ than antraxit Hòn Gai đã khai thác nhiều năm nay, sử dụng cho các ngành công nghiệp trong nước và ưu tiên xuất khẩu nên các loại than có nhiệt trị cao từ 3c trở lên đã trở nên khan hiếm. Chính phủ đã có khuyến cáo cho các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và xúc tiến sử dụng các nguồn than có phẩm cấp thấp hoặc than nhập khẩu để sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất xi măng.

Việc giá than trong nước tăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất kinh doanh trong ngành sản xuất xi măng, đặc biệt là việc xuất khẩu xi măng. Do vậy, việc xem xét sử dụng than chất lượng thấp hoặc than nhập khẩu để cân đối nhu cầu than là việc làm cần thiết. Tuy nhiên, việc sử dụng than kém phẩm cấp hay than nhập khẩu tại indonesia với hàm lượng chất bốc cao trong lò nung clinker cần được nghiên cứu và tìm hiểu kỹ càng hơn thông qua kinh nghiệm của các nhà máy xi măng Nhật Bản hoặc Trung Quốc (có sử dụng than nhập khẩu từ Indonesia để sản xuất xi măng) và phải được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa vào sản xuất thực tế.

Ngoài ra việc sử dụng than nhập khẩu cũng cần lưu ý chi phí giá vận chuyển, là yếu tố rất quan trọng và cần phải được xem xét kỹ lưỡng. Qua thông tin sơ bộ, giá bán than có nhiệt trị 6.300 kcal/kg tại Indonesia là 100USD CIF Hải Phòng (65-70USD FOB và 30USD vận chuyển, bảo hiểm) trên cơ sở tàu <10.000 tấn.

 (Nguồn: Tạp chí Thông tin KHCN-Vicem)

CÔNG TY CỔ PHẦN TÀU BIỂN THÀNH ĐẠT

Địa chỉ: Số 33 Ngõ 318 Đê La Thành – Phường Ô Chợ Dừa – Quận Đống Đa – Hà Nội.

Văn phòng: Phòng 1901, Phòng 1908 - Tòa nhà 101 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội.

Số điện thoại:
- Kinh doanh: 024.35123187
- Kế toán: 024.35132954

Fax: 024.35132954

Email: taubienthanhdat@gmail.com

   Số lượng truy cập
   Đang online
Liên hệ
0916459911